Deprecated: mysql_connect(): The mysql extension is deprecated and will be removed in the future: use mysqli or PDO instead in /home1/zensea/public_html/thuvienykhoa.vn/connect.php on line 11
Đăng ký | Sitemap
 
Đặc điểm viêm loét giác mạc nhiễm khuẩn tại bệnh viện mắt trung ương
   Tai mũi họng   Nha khoa   Phục hồi chức năng
   Truyền nhiễm   Nhãn khoa   Ung thư
   Thần kinh   Tâm thần   Lão khoa
   Gây mê   Chỉnh hình   Da liễu
 

Đặc điểm viêm loét giác mạc nhiễm khuẩn tại bệnh viện mắt trung ương

Viêm loét giác mạc (VLGM) nhiễm khuẩn là một bệnh rất thường gặp, là nguyên nhân chính trong nhóm nguyên nhân mù lòa do bệnh lý giác mạc. Bệnh thường gặp ở các nước nhiệt đới đang phát triển, tuy nhiên ở các nước này không có thông tin về dịch tễ học của VLGM. Tại các nước phát triển như Mỹ, ước tính hàng năm, có tới 30.000 ca VLGM do vi khuẩn và tỷ lệ mắc bệnh trên nhóm người dùng kính áp tròng cao hơn nhiều. Nước Mỹ tốn khoảng 50 triệu đô la Mỹ/ năm để điều trị VLGM. Ở Anh, tình trạng này cũng  tương  tự  và  có  khoảng  1500  ca  VLGM nhiễm  khuẩn/năm.  VLGM  do  amip  được  phát hiện lần đầu tiên vào năm 1973 và từ đó ngày càng được chẩn đoán nhiều hơn. Tỷ lệ mắc mới chưa được biết rõ nhưng ước tính rằng tỷ lệ này khoảng 1/10.000 người đeo kính áp tròng mỗi năm. Theo y văn, nguyên nhân VLGM chủ yếu là do vi khuẩn [7]. Gần đây, cơ cấu nguyên nhân gây VLGM cũng đã thay đổi. Các tác giả nhận thấy VLGM do nấm ngày càng tăng.

Ở nước ta, đến nay chưa có số liệu thống kê về tỷ lệ VLGM nhiễm khuẩn. Trong thực tế điều trị, những năm gần đây, chúng tôi nhận thấy số lượng các trường hợp loét giác mạc do nấm ngày càng tăng, tình trạng bệnh ngày càng nặng và vì vậy kết quả điều trị cũng rất hạn chế. Tỷ lệ các mắt VLGM nặng, phải bỏ nhãn cầu rất cao. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm mục tiêu:

Đánh giá một số đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị VLGM nhiễm khuẩn tại bệnh viện Mắt Trung Ương trong hai năm 2004 - 2005.

I. ĐỐI   TƯỢNG   VÀ   PHƯƠNG    PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu hồ sơ bệnh án của 562 bệnh nhân (BN) được điều trị VLGM tại khoa Kết Giác Mạc, bệnh viện Mắt Trung Ương trong thời gian từ tháng 1 năm 2004 đến hết tháng 10 năm 2005, bệnh nhân (BN) được lựa chọn theo các tiêu chí sau:

Bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị VLGM nhiễm khuẩn do nấm, vi khuẩn virut hoặc amip. Có đủ các thông tin để khai thác trong nghiên cứu. Nếu một BN  có  hơn một  bệnh án thì  các thông tin khai thác được dựa vào tất cả các bệnh án của BN đó.

Tiêu chuẩn loại trừ:

Bệnh nhân bị các bệnh loét GM không có căn nguyên nhiễm khuẩn như loét Mooren, loét sau bỏng.

Các hồ sơ không có đủ các thông tin.

Các thông tin khai thác từ hồ sơ bệnh án:

Các thông tin về BN: Tên, tuổi, giới, nghề nghiệp.

Các thông tin về tình trạng loét: nguyên nhân viêm loét giác mạc; các yếu tố liên quan (tiền sử chấn thương, dùng corticoid); mức độ loét (không thủng hoặc có thủng); cách điều trị; thị lực khi ra viện. Thời gian mắc bệnh là thời gian từ khi BN bị bệnh đến khi ra viện, thời gian điều trị nội trú là thời gian kể từ khi bệnh nhân vào viện đến khi BN ra viện. Nguyên nhân loét giác mạc được chẩn đoán theo kết quả chẩn đoán vi sinh vật, hoặc dựa vào chẩn đoán lâm sàng hoặc theo sự đáp ứng với phác đồ điều trị. (Do trong hồ sơ bệnh án, các thông tin về vi khuẩn học không được ghi nhận đầy đủ nên chúng tôi không thống kê theo kết quả này).

Mục tiêu: Đánh giá một số đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị viêm loét giác mạc nhiễm khuẩn trong hai năm 2004 - 2005 tại bệnh viện Mắt Trung Ương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu trên 562 bệnh nhân đã được điều trị tại khoa Kết - Giác mạc từ tháng 1/2004 đến hết tháng 10/2005. Các chỉ số được ghi nhận và phân tích: tuổi, giới, nghề nghiệp, các yếu tố nguy cơ, nguyên nhân viêm loét giác mạc, thời gian mang bệnh, thời gian điều trị tại bệnh viện, các biện pháp điều trị và thị lực khi ra viện. Kết quả: Trong số 562 bệnh nhân viêm loét giác mạc, có 54,1% (304) bệnh nhân nam và 45,9% (258) bệnh nhân nữ. Độ tuổi trung bình là 46,8: Trẻ nhất là 2 tuổi và già nhất là 87. Hầu hết bệnh nhân thuộc về nhóm lao động chân tay (92,7%). Nguyên nhân loét: Chủ yếu do nấm (59,8%), sau đó là do vi khuẩn (29,4%), virut (9,1%) và amip (1,8%). Thời gian mang bệnh trung bình là 52,41 ± 34,46 ngày. Thời gian điều trị trung bình: 23,8 ± 19,9 ngày. Có đến 57,5% bệnh nhân cần được điều trị ngoại khoa phối hợp, trong đó 14,8% được ghép giác mạc và 11,6% múc nội nhãn. Tỷ lệ mất thị lực hoàn toàn (do múc nội nhãn) sau điều trị là 11,6%, mù (ĐNT <3m) là 66,2%. Kết luận: Viêm loét giác mạc nhiễm khuẩn là bệnh lý nặng nề, ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống của bệnh nhân và xã hội. Cho dù được điều trị khỏi, thì tỷ lệ mù lòa do viêm loét giác mạc vẫn rất cao.
 

Trên đây là tóm tắt của tài liệu:" Đặc điểm viêm loét giác mạc nhiễm khuẩn tại bệnh viện mắt trung ương ". Trong toàn văn không có lỗi chính tả. Để đọc toàn văn xin nhấn Download

MÃ TÀI LIỆU
    DTCCS01233
Loại tài liệu
    (.pdf)
Mức phí: :
    10.000 điểm Tài khoản của bạn có: điểm
Nhấn để tải
   
 
PHẦN MỀM HỖ TRỢ DOWNLOAD IDM LÀ NGUYÊN NHÂN HỆ THỐNG TRỪ SAI ĐIỂM ( TẮT NÓ TRƯỚC KHI TẢI TÀI LIỆU )
ĐỂ ĐẢM BẢO QUYỀN LỢI CỦA CÁC BẠN:
KHI CÓ LỖI LIÊN QUAN ĐẾN NẠPTRỪ ĐIỂM, TÀI LIỆU CHỈ CÓ MỘT PHẦN XIN VUI LÒNG LIÊN HÊ BỘ PHẬN HỖ TRỢ.
HOTRO@THUVIENYKHOA.VN ( 24/24H ) - 0932.716.617 ( 8AM - 8PM )
BẠN CÓ THỂ TÌM KIẾM NỘI DUNG BỔ SUNG Ở ĐÂY
 
       
Tài khoản
Mật khẩu
Lưu mật khẩu
Đăng ký | Quên mật khẩu
Ebook hay
SIÊU ÂM CHẨN ĐOÁN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÂM SÀNG SẢN PHỤ KHOA LIÊN QUAN TẬP 1
CHẨN ĐOÁN ĐIỀU TRỊ Y HỌC HIỆN TẠI TẬP I
Sổ tay lâm sàng - chẩn đoán và điều trị
Điện tâm đồ - từ điện sinh lý đến chẩn đoán lâm sàng
Xem thêm
 
QUẢNG CÁO