Đăng ký | Sitemap
 
Học sinh trung học phổ thõng với vấn đề tình yêu, quan hệ tình dục và sử dụng các biện pháp tránh thai
 

Học sinh trung học phổ thõng với vấn đề tình yêu, quan hệ tình dục và sử dụng các biện pháp tránh thai

Để đánh giá kết quả giáo dục về DS/SKSS/KHHGĐ cho học sinh THPT, từtháng 3 đến tháng 7 năm 2004, Viện Khoa học dân số, gia đình và trẻ em đã tiến hành “Khảo sát đánh giá kết quả giáo dục dân số/SKSS/KHHGĐ cho họcsinh trong trường THPT”.kết quả cho thấy:
Tình yêu trong lứa tuổi học sinh THPT đã trở thành một hiện tượng phổ biến mang tính xã hội với 16,0% ĐTNC cho rằng nên có người yêu và 16,2% ĐTNC nêu đã có người yêu.
Với 9% ĐTNC đổng ý và 11,1% còn băn khoăn về việc có thể QHTD tuổi học sinh THPT và 27,2% nêu bạn bè cùng trang lứa có QHTD là những số liệu cảnh báo sự gia tăng về tình trạng này trong các trường THPT.
Có sự khác biệt về mức độ tình yêu vàQHTDgiữa ba nhóm, đặc biệt là giữa học sinh vàVTN vàsựsử dụng các BPTT tăng lên trong khi QHTD đã phần nào phản ánh về hiệu quả công tác giáo dục về DS/SKSS/KHHGĐ trong trường THPT.
Từ đó cần phải tăng cường hiệu quả và mở rộng phạm vi hoạt động giáo dục về dân số/SKSS/KHHGĐ cho học sinh trong các trường THPT và VTN, thanh niên ngoài nhà trường, đổng thời gắn kết và đảm bảo hơn nữa trách nhiệm, vai trò của ba yếu tố của môi trường giáo dục là gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục cho các em nhằm giúp các em hiểu rõ tình bạn, tình yêu một cách đúng mức, hạn chếđến mức thấp nhất hiện tượng QHTD trong học sinh THPT.
I.    ĐẶT VẤN ĐỂ
Theo tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999, vị thành niên (VTN) thuộc nhóm 10-19 tuổi có 17.288.842 người (chiếm 22,7% tổng dân số),<2) Đây là nhóm người chưa trưởng thành, còn đang cẩn sự bảo trợ của cha mẹ hay người đỡ đẩu. ở lứa tuổi này có những đặc điểm cơ bản là hay biến động về tâm, sinh lý và đang hoàn thiện dẩn cơ thể. [4]
Trong bối cảnh của nền kinh tế - xã hội phát triển, cùng với xu thế hội nhập và thông tin hóa toàn cẩu, tuổi vị thành niên ở nước ta cũng như các nước trên Thế giới bước vào tuổi dậy thì sớm hơn trước kia, sớm đi vào yêu đương, trong khi đó tuổi kết hôn trung bình lẩn đẩu lại tăng vì vậy vấn đề quan hệ tình dục tuổi vị thành niên và trước hôn nhân trở lên phổ biến hơn. Kinh nghiệm của nhiều nước trên Thế giới và tại Việt Nam cho thấy, nhóm tuổi này khi có quan hệ tình dục thường thiếu hiểu biết và không sử dụng các biện pháp tránh thai (BPTT), vì vậy làm tăng nguy cơ mang thai ngoài ý muốn với những hậu quả tức thì hay lâu dài cả về tinh thẩn và thể chất, đôi khi còn nguy hiểm tới tính mạng. Nguyên nhân chủ yếu được xác định là nhiều vị thành niên không được cung cấp thông tin, giáo dục về sức khoẻ sinh sản (SKSS) và kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ) Một trong những giải pháp tháo gỡ là cung cấp cho vị thành niên và thanh niên trẻ có thông tin, có sự hiểu biết đúng những gì liên quan đến sự phát triển về tâm, sinh lý và cơ thể họ nhưgiải phẫu, sinh lý cơ thể con người, chức năng sinh sản, phòng tránh thai và phòng chống các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục bao gồm cả HIV và AIDS V.V.. Vì vậy việc giáo dục về SKSS/KHHGĐ cho vị thành niên và thanh niên là cẩn thiết. Tổ chức y tếThếgiới đã tổng kết trên 19 nghiên cứu cho thấy việc đưa giáo dục giới tính vào nhà trường đã làm cho học sinh, vị thành niên và thanh niên trì hoãn hay làm giảm hoạt động tình dục, tăng sử dụng cácBPTT và thực hành tình dục an toàn. [3]
Tại Việt Nam, với sựtrợ giúp của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) Chương trình giáo dục dân số/SKSS do Bộ Giáo dục thực hiện đã sớm đưa vào thử nghiệm tại nhiều trường trung học phổ thông (THPT) từ những năm 1984 - 1987.[1] Đối với vị thành niên ngoài nhà trường có nhiều mô hình thông tin, giáo dục như các trung tâm đa dịch vụ cho thanh niên, các chương trình bạn đổng đẳng...Từ năm 2001, uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em đã triển khai đưa chương trình giáo dục SKSS/KHHGĐ cho học sinh trường THPT tại 36 tình/TP bước đẩu đã đạt được nhiều kết quả [4]
Để đánh giá kết quả giáo dục về DS/SKSS/KHHGĐ cho học sinh THPT, từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2004, Viện Khoa học dân số, gia đình và trẻ em đã tiến hành “Khảo sát đánh giá kết quả giáo dục dân số/SKSS/KHHGĐ cho học sinh trong trường THPT”. Công trình này là một nội dung của cuộc khảo sát đánh giá nhằm đạt được các mục tiêu sau:
1. Đánh giá nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh THPT và VTN ngoài nhà trường về một số nội dung như tình yêu tuổi học trò, quan hệ tình dục và sử dụng các biện pháp tránh thai.
2. Đề xuất các giải pháp tăng cường công tác giáo dục DS/SKSS/KHHGĐ cho học sinh THPT và VTN ngoài trường học.
2.    Địa bàn, đôi tượng và phương pháp nghiên cứu.
*    Địa bàn
Tỉnh: Chọn chủ đích 5 tỉnh thuộc 3 miền Bắc, Trung, Nam trong đó 03 tỉnh đã triển khai giáo dục DS/SKSS/KHHGĐ cho học sinh các trường THPT là Lào Cai, Hải Phòng và Đổng Tháp và 02 tỉnh chưa triển khai là Quảng Nam, Đổng Nai
Huyện (trường): 10 trường, mỗi tỉnh chọn 02 huyện (trường) trong đó có địa bàn thành phố/thị xã và một vùng đặc trưng theo huyện địa bàn.
*    Đối tượng
3.402 học sinh THPT và VTN ngoài nhà trường (gọi tắt là ĐTNC), trong đó: 2.921 học sinh các trường THPT (gọi tắt là HS) thuộc 02 nhóm đối tượng, nhóm đang học tại các trường THPT đã được triển khai chương trình giáo dục là 1.724 (gọi tắt là HS1); nhóm học tại các trường chưa triển khai là 1.197 (gọi tắt là HS2) và 481 vị thành niên ngoài trường (gọi tắtlàVTN)
*    Phương pháp nghiên cúu đánh giá
Sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để thu thập thông tin định lượng thông qua các phiếu khảo sát, được soạn thảo theo nguyên tắc khuyết danh với câu hỏi đóng và câu hỏi mở và phương pháp định tính thông qua phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, xử lý số liệu bằng chưong trình phẩn mềm SPSS.
3.    Kết quả nghiên cứu
3.1. Đặc điểm cơ bản của ĐTNC
Tuổi trung bình củaĐTNC là 17,03 tuổi, học sinh 17,10 tuổi (N=2884) và VTN là 16, 59 tuổi (N= 463)
Giới tính: tỷ lệ nam/nữ đã khảo sát là tương đối cân bằng ở cả tổng số chung (44,3%/55,7%) cũng nhưở các đối tượng học sinh (43,5%/56,5%) và VTN (49,2%/50,8%). Sựchênh lệch lớn nhất là số HS2: số nam chỉ có 38,6% trong khi số nữ là 61,4%. Trong quá trình khảo sát, do chọn ngẫu nhiên lớp học nên cósựchênh lệch nhưtrên.
Trình độ văn hóa: do chọn có chủ đích số học sinh các trường ở ba khối lớp 10,11 và 12 nên tỷ lệ giữa ba khối này trong nhóm học sinh tương đương nhau: lớp 10 chiếm 34,6%; Lớp 11: 33,4%; Lớp 12:32,0%. (N=2921)
Dân tộc: ĐTNC chủ yếu là người dân tộc Kinh chiếm 95,1%, các dân tộc khác chỉ có 4,9%.

Trên đây là tóm tắt của tài liệu:" Học sinh trung học phổ thõng với vấn đề tình yêu, quan hệ tình dục và sử dụng các biện pháp tránh thai ". Trong toàn văn không có lỗi chính tả. Để đọc toàn văn xin nhấn Download

MÃ TÀI LIỆU
NCCSM.00530
Loại tài liệu  (.pdf)  Lượt tải:  1
Mức phí: : 10.000 điểm Tài khoản của bạn có: điểm
Nhấn Like bạn có cơ hội nhận 30.000 điểm.
Nhấn Download
Để tải tài liệu về máy.
Nhấn Thanh toán Để tìm hiểu các phương án nạp điểm ưu việt.
Thanh ton an toan với Bảo Kim !
 Hỗ trợ viên
Chat with Hotro 01  Chat with Ho tro 02  Chat with Ho tro 02
 
PHẦN MỀM HỖ TRỢ DOWNLOAD IDM LÀ NGUYÊN NHÂN HỆ THỐNG TRỪ SAI ĐIỂM ( TẮT NÓ TRƯỚC KHI TẢI TÀI LIỆU )
ĐỂ ĐẢM BẢO QUYỀN LỢI CỦA CÁC BẠN:
KHI CÓ LỖI LIÊN QUAN ĐẾN NẠPTRỪ ĐIỂM, TÀI LIỆU CHỈ CÓ MỘT PHẦN XIN VUI LÒNG LIÊN HÊ BỘ PHẬN HỖ TRỢ.
HOTRO@THUVIENYKHOA.VN ( 24/24H ) - : 0978.770.836 - 0932.716.617 ( 8AM - 12PM )
BẠN CÓ THỂ TÌM KIẾM NỘI DUNG BỔ SUNG Ở ĐÂY
 
       
Tài khoản
Mật khẩu
Lưu mật khẩu
Đăng ký | Quên mật khẩu
Ebook hay
Kaplan Tăng huyết áp Lâm sàng 10e
Chẩn đoán Mạch máu Không xâm lấn 2e
Siêu âm Tim đồ 3 chiều Thời gian thực
Nghệ thuật và Khoa học của Khám Tim lâm sàng
Xem thêm
 
QUẢNG CÁO
   
 
Trị bệnh dau dau hiệu quả
 
CACH CHOI FUN88